Người bị ho khan nên và không nên ăn gì để tốt cho sức khỏe

Vỏ quýt Tính ôn, vị cay đắng, làm khô nóng, mất nước bọt. Đối với những người ho phổi khan không đờm không nên ăn. Sách “Bản thảo cương mục” có nói: “Vỏ quýt đắng làm cho khô, cay làm cho tản. Ôn thì làm cho ấm, có thể chữa bách bệnh. Tóm lại có […]

  1. Vỏ quýt

Tính ôn, vị cay đắng, làm khô nóng, mất nước bọt. Đối với những người ho phổi khan không đờm không nên ăn. Sách “Bản thảo cương mục” có nói: “Vỏ quýt đắng làm cho khô, cay làm cho tản. Ôn thì làm cho ấm, có thể chữa bách bệnh. Tóm lại có công dụng điều hoà khí, làm khô. Mặc dù người ho phong hàn nên dùng nhưng người ho phong nhiệt thì cấm. Vỏ cam cũng cấm dùng”. Trong sách “Ẩm thực cần biết” cũng nêu: “Ăn vỏ cam nhiều làm khô phế”.

  1. Quýt hồng

Là lớp vỏ màu hồng bên ngoài quả quýt, có tính chất và mùi vị giống vỏ quýt, rất nóng và khô. Sách “Bản kinh phùng nguyên” chỉ rõ: quýt hồng chuyên trị ho phế hàn, nhiều đờm, còn ho lâu ngày thì không nên ăn. Người phế táo, ho khan, thương âm nhất thiết không được ăn.

quat-hong-bi

  1. Sa nhân

Thường được dùng làm gia vị, vị cay, tính ôn, thương âm. Sách “Dược phẩm hóa nghĩa” viết: “Phế có phù hỏa cấm ăn”. Sách “Bản thảo kinh sơ” lại viết: “Ho thượng khí do hỏa xung bức phế chứ không phải do khí lạnh làm thương tổn. Do đó, ho phế nhiệt không được ăn và ho phế khan cũng không được ăn”.

  1. Vỏ quế

Dân gian thường dùng làm gia vị, có tính cay nóng. Sách “Tứ Xuyên trung dược chí” có viết: “Người âm hư không được ăn”. Ho khan đa phần là do âm hư cho nên không được ăn.

  1. Gừng tươi

Thường được dùng làm gia vị, tính ôn, vị cay. Sách “Bản thảo kinh sơ” có viết: “Trong âm hư có dương, ho khan ra máu không được dùng. Bất kể là ho phong nhiệt hoặc ho phế khan đều cấm ăn”.

gung-tuoi

Những thứ đắng, nóng, đại bổ nguyên khí nhưng dễ trợ hoả thương âm. Sách “Y học nhập môn” viết: “Người âm hư ho khan ra máu khi dùng cần thận trọng”. Sách “Dược phẩm hoá nghĩa” thì viết: “Phế nóng thì có tà, hơi thở không đều, khó thở, ho có đờm đều không được dùng”. Người ho phế nhiệt hoặc ho phổi khan đều không nên dùng.

Ngoài ra, người ho khan cần tránh ăn sa nhân, hạt tiêu, ớt, lạc rang, hạt hướng dương, đậu tằm rang, đậu tương xào, gạo rang, bỏng ngô, gừng tươi và các loại rượu v.v

Người bị ho do phổi khô nóng rát, ho khan không đờm hoặc ít đờm, nên ăn những thực phẩm sau:

1.Thông đỏ hôi

Có tác dụng nhuận phế táo, trị ho. Trong sách “Bản thảo bị yếu” có viết: “Thông đỏ hôi nhuận phế sát trùng”. Trong “Sinh sinh biên” cũng nói: “Trị chứng ho”. Sách “Bản thảo tái tân” cũng cho rằng: “Thông đỏ hôi trị phế hỏa, trị ho”. Vì vậy, những người bị chứng ho phế nhiệt khô nên ăn thông đỏ hôi.

2.Tổ yến

Tính trung, vị ngọt, có thể dưỡng âm, nhuận táo. Trong sách “Bản thảo tòng tân” có viết: “Tổ yến đại dưỡng phế âm, tiêu đờm, trị ho, bổ mà thanh”. Trong “Thực vật nghi kỵ” cũng nói, tổ yến có thể “nhuận phế, tiêu đờm”. Sách “Bản thảo tái tân” còn nêu: “Tổ yến đại bổ nguyên khí, nhuận phế, bổ âm, trị chứng ho do lao”. Vì vậy, người bị ho do phế nhiệt khô táo hay ho không đờm hoặc ít đờm đều nên ăn tổ yến.

3.Vừng

Vị ngọt cay, có tác dụng nhuận ngũ tạng, thích hợp cho người bị chứng ho, phổi nóng ran. Trong dân gian thường dùng 125g vừng đen với 30g đường phèn, giã nhỏ, mỗi ngày dùng 15g đến 30g pha với nước uống vào các buổi sáng và buổi tối, để trị chứng ho khan.

vung

4.Hoàng tinh

Tính trung, vị ngọt, có thể nhuận phế, dưỡng âm, sinh nước bọt, thích hợp cho người bị ho do phế khô táo, bị ho trong thời gian dài mà không có bệnh. Trong sách “Tứ Xuyên trung dược chí” từng chỉ ra rằng: “Hoàng tinh có thể bổ thận nhuận phế, ích khí bổ âm, trị ho do phổi hư”. Có nơi dùng hoàng tinh với đường phèn hầm ăn để trị chứng ho do phế khô.

Nhập bình luận của bạn

Bài viết được quan tâm

Bài viết cùng chuyên mục