Bệnh đột quỵ và cách điều trị – phần 4

"Bệnh đột quỵ và cách điều trị" - phần 4 giới thiệu về các vấn đề liên quan đến bệnh đột quỵ. Cung cấp kiến thức xung quanh căn bệnh này.

Phần IV

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘT QUỴ

  1. Những hướng mới trong điều trị đột quỵ

Quan niệm đột quỵ não là một kiểu kết thúc cuộc đời của người già nay đã lỗi thời. Từ những năm 80 của thế kỷ trước đến nay, tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển đã giảm nhờ chẩn đoán sớm và với các phương tiện hồi sức tích cực, các đơn vị đột quỵ não cũng như các trung tâm đột quỵ não đã điều trị bệnh có hiệu quả.

Tham khảo thêm:

Bệnh đột quỵ và cách điều trị – phần 3

dieu-tri-benh-dot-quy
Các hướng điều trị bệnh đột quỵ

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên thế giới sau ung thư, đứng hàng đầu về nguyên nhân gây tàn phế ở người trưởng thành. Hằng năm, ở Mỹ có khoảng 700.000 – 750.000 bệnh nhân mới và tái phát, chi phí 30 tỷ USD cho điều trị nội trú và phục hồi chức năng. Nguy cơ xảy ra đột quỵ gia tăng theo tuổi, tăng gấp đôi cứ mỗi 10 năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% đột quỵ xảy ra dưới 65 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của đột quỵ não là tăng huyết áp.

Đột quỵ não gồm hai thể bệnh chính: chảy máu não và thiếu máu não cục bộ (thiếu máu não). Theo thống kê, đột quỵ thiếu máu não chiếm khoảng 80 – 85%, đột quỵ chảy máu não chiếm từ 10-15%.

Các biện pháp điều trị củng cố và dự phòng tái phát sau đột quỵ

Để giảm nguy cơ tái phát của các trường hợp thiếu máu não thoáng qua và đột quỵ thiếu máu não cục bộ do huyết khối vữa xơ động mạch, nên có những biện pháp sau:

– Khai thông sớm của bất kỳ các trường hợp hẹp nào có nguồn gốc từ động mạch cảnh trong bởi phẫu thuật khai thông động mạch.

– Giảm dần các yếu tố nguy cơ nguyên nhân mạch máu (tăng huyết áp, tăng Cholesterol, kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá…).

– Điều trị chống kết tập tiểu cầu để ngăn chặn sự tạo thành mảng vữa xơ động mạch mới và các biến chứng huyết khối vữa xơ động mạch do đứt vỡ các mảng này.

Các biện pháp cụ thể bao gồm:

+ Thay đổi phong cách sống cố định, nhàm chán, ít vận động và các thói quen có hại (không hút thuốc lá, chống lạm dụng rượu, hạn chế các stress), tập luyện thân thể thường xuyên.

+ Duy trì huyết áp tối đa và tối thiểu (< 140/90mmHg).

+ Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ (đái tháo đường, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch…).

+ Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu (aspirin dipiridamol, clopidogrel…) theo chỉ dẫn.

Sử dụng thuốc điều trị dự phòng đột quỵ

Các thuốc Tây y:

Các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu do ức chế sự tổng hợp thromboxan A2 của tiểu cầu (chất làm dính các tiểu cầu với nhau và với thành mạch) đồng thời giúp ổn định màng tế bào làm ADP không giải phóng ra được khỏi màng tế bào để tham gia vào quá trình kết dính tiểu cầu nên đã được dùng phổ biến trong thời kỳ cấp để ngăn chặn huyết khối tiến triển và tái phát. Chúng có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông… Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu cục máu đông và không thể tái lập nhanh lưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu chủ yếu bao gồm:

– Aspirin:

+ Với các bệnh nhân có tiền sử gia đình, có nguy cơ mạch máu cao (tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi, đái tháo đường) dùng aspirin giảm được nguy cơ xảy ra đột quỵ não và tim xấp xỉ 19%.

+ Với các bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não trước đó, dùng aspirin giảm được xấp xỉ 19-23% đột quỵ tái phát trong 3 năm (placebo là 13%), tỷ lệ giảm tuyệt đối xấp xỉ (30/1.000/3 năm và 10/1.000/năm). Tác dụng không mong muốn chủ yếu của aspirin là gây biến chứng chảy máu đường tiêu hóa (0,5%/năm).

– Dypiridamol: Giảm nguy cơ đột quỵ ở các bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu khoảng 10% và ở các bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ trước đó xấp xỉ 13%. Dypiridamol không gây biến chứng chảy máu tiêu hóa nhưng gây đau đầu (xấp xỉ 8%), trong một số trường hợp người bệnh không tiếp tục điều trị thuốc này được.

– Aggrenox: Là thuốc kết hợp aspirin + dypiridamol (25mg + 200mg) làm giảm tác dụng không mong muốn của aspirin và tăng hiệu quả điều trị dự phòng gấp 2 lần dùng aspirin đơn độc (xấp xỉ 37%). Nghiên cứu dự phòng đột quỵ châu Âu (ESPS-2) cho rằng phác đồ kết hợp giữa aspirin và dypiridamol là sự lựa chọn dược lý hứa hẹn để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

Clopidogrel: Clopidogrel làm giảm nguy cơ tái phát đột quỵ ở các bệnh nhân có tiền sử thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ trước đây đạt xấp xỉ 30% và ít gây biến chứng chảy máu tiêu hóa so với aspirin. Hiện nay thuốc thường dùng là plavix.

Các thuốc y học cổ truyền:

– Hoa Đà Tái tạo hoàn (Huatuozaizao pilis): Liều dùng 8g/lần x 2 lần/24 giờ, một đợt điều trị 30 ngày, có thể uống 3 đợt liên tục và không có tai biến. Thuốc có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hóa ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng ở nhiều bệnh viện của Trung Quốc để điều trị cho các bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu.

– Luotai: Là panax notogingseng saponin (dạng bột pha tiêm, viên nén, dung dịch tiêm) dùng để điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ não cấp và bán cấp do có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm. Thuốc cũng đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc và được Trung tâm Đột quỵ não – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nghiên cứu sử dụng có hiệu quả.

– Hoạt huyết dưỡng não: Được giới thiệu có tác dụng cải thiện lưu lượng máu não.

– Viên Kỷ cúc địa hoàng và Tứ vật đào hồng: Được chiết xuất từ mật bò đã được nghiên cứu điều trị phục hồi sau đột quỵ não có kết quả tại Viện Y học cổ truyền quân đội.

  1. Nhận biết dấu hiệu khởi phát đột quỵ não
dau-hieu-benh-dot-quy
Cơn đau đầu của bệnh đột quỵ khác với những cơn đau đầu thông thường

Thời kỳ khởi phát của tai biến mạch máu não, đau đầu mang tính chất rất kỳ dị, khác hẳn với những lần đau đầu thường ngày và thường kèm theo những rối loạn tâm lý mà dân gian mê tín cho là “nói gở”.

Đối với tắc mạch máu não, định khu đau đầu thường ở chỗ não thường liên quan đến vị trí tắc nghẽn mạch ở khu vực đó. Tiếp sau đau đầu, đột quỵ xuất hiện.

Đột quỵ não tiến triển qua ba giai đoạn:

– Giai đoạn bùng lên của những yếu tố bệnh lý thuận lợi cho tai biến xuất hiện như: tăng huyết áp, bệnh tim, đái tháo đường, tăng lipid máu.

– Quá trình tiến triển tiếp theo của thiếu máu não tạm thời.

– Nhồi máu não hoàn toàn do tắc nghẽn hoặc chảy máu não. Đau đầu đều có thể xuất hiện trong các giai đoạn này.

Tuy nhiên, đau đầu triệu chứng còn có thể gặp trong những trường hợp vữa xơ những động mạch nuôi tổ chức não.

Đau đầu trong nhồi máu não

Ở đây, cơ chế phát sinh đau đầu là do tắc động mạch lớn. Nói chung, đau đầu có đặc điểm là dai dẳng hơn trong cơn thiếu máu não tạm thời. Có khoảng từ 50 – 70% nhồi máu não hoàn toàn do tắc vòng tuần hoàn phía sau của não. Đau đầu do tắc động mạch não sau khu trú ở vùng quanh một hoặc hai mắt và cũng thường thấy ở vùng chẩm. Đau đầu do huyết khối động mạch thường khu trú ở hai bên vùng chẩm, hiếm thấy ở một bên, lan tỏa ra toàn bộ đầu như vòng đại mũ. Đau đầu ở bệnh nhân huyết khối động mạch sống, đôi khi dễ nhầm với đau đầu từng chuỗi, đau đầu thường tập trung xung quanh mắt và triệu chứng thần kinh khu trú có thể không rõ ràng. Đau đầu như đốt cháy, ép hoặc nhói. Khám bệnh cẩn thận có thể phát hiện được thêm đau đầu ở một bên vùng chẩm và các dấu hiệu của nhồi máu tủy bên. Nhồi máu não do tắc động mạch cảnh hay động mạch não giữa gây đau đầu 20 – 30% bệnh nhân, khu trú ở bên tắc quanh ổ mắt và thái dương, có thể kéo dài vài giờ hoặc vài ngày.

Đau đầu trong chảy máu não

Chảy máu dưới màng nhện gây đau đầu đặc biệt dữ dội. Thường chảy máu não do phồng động mạch trong 50% trường hợp, do dị dạng động tĩnh mạch trong 10%, và 40% do các rối loạn khác như bọc máu tụ trong não, tăng huyết áp hoặc rối loạn đông máu.

Phồng động mạch não

Thường biểu hiện ở tuổi 30 – 65 và tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ gần như nhau. Không phải tất cả phồng động mạch đều có biểu hiện lâm sàng mà chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ. Phồng động mạch có đường kính nhỏ hơn 5mm không gây ra triệu chứng nhưng phồng động mạch có đường kính từ 3cm có thể bắt đầu gây nên triệu chứng về áp lực sọ não như một khối phát triển. Khi phồng động mạch giãn rộng thì nguy cơ vỡ mạch sẽ tăng lên. Bệnh nhân phồng động mạch, thường có tiền sử khỏe mạnh và đột nhiên nhức đầu ghê gớm sau một gắng sức như trong khi giao hợp, rặn khi đại tiện hoặc hoạt động thể lực mạnh. Đau thường lan ra toàn đầu, nhưng có lúc đau tăng hơn ở vùng chẩm lan nhanh xuống cổ gáy, cứng cổ, có thể lan tới lưng và chi dưới. Tình trạng đau dữ dội đó kéo dài vài giờ nhưng đau đầu trầm trọng có thể dai dẳng tới 3-15 ngày. Bệnh nhân thấy sợ ánh sáng, vận động mắt đau và thường phải cố gắng giữ yên tĩnh, sợ làm bất cứ một vận động nhỏ nào. Các triệu chứng khác kèm theo thường là rối loạn ý thức, kích thích màng não, các rối loạn hệ thần kinh thực vật, các triệu chứng thần kinh khu trú (liệt nửa người) và rối loạn thị giác. Có khoảng 20% bệnh nhân có đau đầu báo hiệu trước vài ngày hoặc vài tuần trước khi vỡ mạch. Các triệu chứng phát sinh do thấm mạch hoặc giãn nở phồng động mạch. Giãn phồng động mạch cảnh trong có thể gây ra sụp mí mắt trên do dây thần kinh III và đôi khi ở mắt có thể nhầm triệu chứng này với Migarine thể liệt mắt hoặc trường hợp liệt dây III do đái tháo đường.

Ngoài ra, các dị dạng động mạch não là những khuyết tật bẩm sinh bất thường của các huyết quản nối hệ động mạch với tĩnh mạch hay xảy ra ở nam gấp hai lần nữ cũng gây ra những biểu hiện khởi phát đột quỵ não.

Những tín hiệu sớm và khởi phát đột quỵ não, nhất là cảm giác đau đầu xuất hiện ở thời điểm trước và ngay lúc vừa xảy ra tai biến là kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về dự phòng đột quỵ não. Nhận biết những tín hiệu khởi phát của từng loại tai biến có thể giúp các thầy thuốc đa khoa tuyến y tế cơ sở cũng như người bệnh và gia đình người bệnh, ở mức độ nào đó có thể định hướng được loại tai biến sắp và đang ập tới để nhanh chóng “cướp thời gian” xử trí ban đầu rồi đưa ngay người bệnh tới cơ sở y tế có chuyên khoa hồi sức cấp cứu gần nhất. Lúc này cần có chỉ định thận trọng của bác sĩ về phương thức chuyên vận bệnh nhân để tránh gây trầm trọng thêm quá trình diễn biến của bệnh.

  1. Mối liên hệ giữa canxi và đột quỵ

Một nghiên cứu của Hà Lan cho thấy, ở những nạn nhân đột quỵ, hàm lượng canxi trong mạch vành cao hơn so với người bình thường. Phát hiện này mở ra khả năng xác định nguy cơ đột quỵ bằng cách kiểm tra hàm lượng canxi.

Sau khi xem xét hơn 2.000 người già (trong đó 50 người từng sống sót sau khi bị đột quỵ), các nhà khoa học nhận thấy, so với người có chỉ số canxi mạch vành là 0 – 100, nguy cơ đột quỵ cao gấp đôi ở những người có chỉ số là 101 – 500 và gấp 3 nếu có chỉ số trên 500.

Lượng canxi cao trong các động mạch vành (có nhiệm vụ cung cấp máu cho tim) là một tín hiệu cho thấy bệnh nhân bị xơ cứng động mạch. Nó làm hẹp các mạch máu và dẫn đến chứng đau tim hay đột quỵ.

  1. Bệnh zona mắt và nguy cơ đột quỵ

Một mối liên hệ không ngờ tới giữa bệnh giời leo và nguy cơ đột quỵ

Zona (shingles – giời leo) là một bệnh có biểu hiện ngoài da do chủng virus thuỷ đậu Varicella-zoster virus (VZV) gây ra với triệu chứng chủ yếu là hồng ban – bóng nước, thường chỉ xuất hiện ở một bên cơ thể kèm cảm giác đau rát nhiều.

50% người già độ tuổi 65 – 80; 50% người được ghép thận hay ghép tuỷ xương; người bị nhiễm HIV/AIDS hay bị ung thư các loại, không kể tuổi người đang dùng các loại thuốc ức chế miễn dịch, các thuốc loại corticoid lâu ngày để điều trị suyễn, viêm khớp, người có tiền sử chấn thương nhiễm trùng… nếu từng bị nhiễm virus thuỷ đậu lúc nhỏ thường dễ bị zona.

Zona mắt là gì?

3 – 20% trường hợp sang thương zona nằm ở vùng dây thần kinh sinh ba, chủ yếu ở nhánh mắt, gọi là zona mắt. Bệnh nhân thường có cảm giác đau nhức, bỏng rát ở vùng mắt sắp bị nổi sang thương. Các mụn nước zona sẽ vỡ ra, đóng mày sau 7-14 ngày và cuối cùng để lại sẹo xấu có thể kèm thay đổi sắc tố da. Sang thương da có thể bị bội nhiễm vi khuẩn. Zona là một bệnh không lây, tuy nhiên người chưa từng bị thuỷ đậu hay chưa được chủng ngừa có thể bị thuỷ đậu khi tiếp xúc với bệnh nhân zona.

8,1 % bệnh nhân zona vùng mắt bị đột quỵ

Theo một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí Journal Watch Neurology ngày 1-6-2010, bệnh nhân bị zona vùng mắt có nhiều nguy cơ đột quỵ. Bệnh lý mạch máu là một biến chứng quan trọng của zona mắt có thể đưa đến tình trạng thiếu máu não hay đôi khi xuất huyết não.

Để xác định tần suất đột quỵ xảy ra sau zona mắt, người ta đã hồi cứu các dữ liệu của Viện Nghiên cứu Bảo hiểm Y tế quốc gia Taiwan về bệnh lý này và so sánh với các bệnh lupus đỏ hệ thống, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng toàn thể, nhiễm HIV, các bệnh lý ác tính, các trường hợp đột quỵ nguyên phát hay trên các bệnh nhân đã dùng thuốc ức chế miễn dịch. Kết quả cho thấy trong 658 bệnh nhân bị zona mắt, có 8,1% bị đột quỵ xảy ra trong vòng một năm sau zona, so với tỉ lệ 1,7% bị đột quỵ khảo sát trên 1.974 bệnh nhân có những bệnh lý khác nêu trên. Một tỉ lệ đột quỵ cao gấp 4,52 lần so với nhiều nguyên nhân gây đột quỵ khác. Không có sự khác biệt giữa tỉ lệ đột quỵ sau zona mắt ở những bệnh nhân có hay không có dùng thuốc kháng virus.

Khảo sát này đã xác nhận kết quả của một nghiên cứu tương tự trước đó cho rằng có sự gia tăng nguy cơ đột quỵ sau zona ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, và cả hai nghiên cứu đều ghi nhận một tỉ lệ đột quỵ cao sau zona mắt. Lưu ý, nghiên cứu này còn bị giới hạn ở việc chỉ hồi cứu các triệu chứng, cần phải loại trừ thêm các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ quan trọng khác như hút thuốc lá, rung nhĩ…

Yêu cầu quan trọng sau khảo sát này là tìm ra nguyên nhân chính xác của nguy cơ đột quỵ sau zona mắt. Việc điều trị zona bằng các thuốc kháng virus dường như không hữu hiệu để giảm nguy cơ đột quỵ. Liệu có thể cải thiện được căn bệnh trên bằng cách kéo dài thêm thời gian sử dụng thuốc kèm thêm steroids? Những vấn đề này rất quan trọng vì hiện nay tỉ lệ người cao tuổi trong dân số đang ngày càng tăng và bệnh lý nhiễm VZV cũng như đột quy rất thường xảy ra ở nhóm tuổi này.

Đột quỵ ngày nay đã được chính thức ghi nhận là một biến chứng nặng của zona mắt cùng với các biến chứng khác như viêm giác mạc và đau thần kinh sau zona. Bệnh lý mạch máu do VZV gây ra được xác định bao gồm một hay nhiều ổ viêm nhiễm gây bệnh trong các mạch máu não.

Hiện nay đã có thuốc chủng ngừa zona – zostavax – cho người trên 60 tuổi. Tuy nhiên, nếu trẻ em được chủng ngừa thuỷ đậu đầy đủ lúc nhỏ sẽ không bị thuỷ đậu và do đó không lo bị zona sau này.

  1. Bụng phệ làm tăng nguy cơ đột quỵ

Một nghiên cứu mới tiến hành trên 1.600 người dân Mỹ cho thấy, bụng phệ là chỉ số tiên đoán đột quỵ có giá trị hơn so với thừa cân. Eo bự làm tăng nguy cơ đột quỵ tới gần 5 lần, trong khi nguy cơ này chỉ tăng hơn 2 lần ở những người thừa cân.

Từ lâu, béo phì vẫn được coi là liên quan tới nhiều bệnh như tiểu đường, bệnh tim hoặc đột quỵ. Gần đây, các nhà khoa học chú ý tới những phân bố đặc biệt của mỡ như tập trung nhiều quanh vòng eo (người hình quả táo) và quanh hông (người hình quả lê).

Trong nghiên cứu lần này, để xác định mức béo bụng, các bác sĩ sử dụng chỉ số eo/mông (vòng eo chia cho vòng mông). Kết quả kiểm tra cho thấy, nguy cơ đột quỵ tăng ở tất cả những người bụng phệ (tỷ lệ eo/mông lớn hơn 0,93 ở nam và lớn hơn 0,86 ở nữ) so với những người có bụng cân đối. Cụ thể là nguy cơ đột quỵ:

– Tăng 2,4 lần ở những người có trọng lượng bình thường.

– Tăng 4,8 lần ở những người thừa cân.

– Tăng 2,77 lần ở những người béo phì.

Trong khi đó, nguy cơ này chỉ tăng 2 lần ở những người thừa cân nhưng có vòng bụng bình thường.

Ngoài ra, xét về mặt tuổi tác, một điều đáng chú ý là khả năng bị đột quỵ liên quan tới bụng phệ tăng 4 lần ở những người dưới 65 tuổi, nhưng lại chỉ tăng 2 lần ở những người trên 65.

  1. Vitamin B9 giúp ngăn ngừa chứng đột quỵ và bệnh tim

Nghiên cứu kéo dài 19 năm của Mỹ cho thấy, những người dùng ít nhất 300 microgam (mcg) acid folic (vitamin B9) mỗi ngày giảm được 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim so với những người dùng dưới 136mcg/ngày.

vitamin-b9
Vitamin B9 giúp ngăn ngừa chứng đột quỵ và bệnh tim

Tuy nhiên, việc sử dụng 2 cốc rượu mỗi ngày có thể làm tăng 10 lần nguy cơ bị những dạng đột quỵ nặng nề.

Đây là lần đầu tiên người ta chỉ ra lợi ích của vitamin B9 với đột quỵ. Kết luận này được các nhà khoa học tại Đại học Sức khỏe Cộng đồng và Y tế Nhiệt đới Tulane đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên gần 10.000 nam và nữ tuổi 25 – 74. Các tác giả cũng nhận thấy, những người dùng chế độ ăn giàu acid folic có huyết áp và hàm lượng cholesterol trong máu thấp hơn một chút so với những người dùng ít chất này. Họ nhất trí rằng, hàm lượng acid folic cần dùng cho mỗi người là 300 – 400mcg/ngày. (Nghiên cứu đăng trên tờ Đột quỵ, Tạp chí của Hội Tim mạch Mỹ).

Acid folic có trong rất nhiều thực phẩm như các quả có vị chua, rau lá xanh, cà chua, các loại đậu, gạo, mì, và các sản phẩm từ hạt như bánh mì, ngũ cốc ăn sáng. Gan cũng chứa nhiều acid này. Kể từ năm 1998, Mỹ đã bổ sung acid folic vào bột mì nhằm cung cấp thêm khoảng 100mcg chất này mỗi ngày vào chế độ ăn.

B9 được coi là có tác dụng chống xơ vữa động mạch giống như B6 và B12 thông qua giảm nồng độ homocysteine – chất gây tổn thương thành mạch – trong máu.

  1. Nước cam giúp ngăn ngừa đột quỵ

Nghiên cứu mới của Phần Lan cho thấy, không dùng đủ vitamin C trong chế độ ăn có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ, nhất là ở nam giới có huyết áp cao hoặc bị quá cân. Vitamin này giúp cải thiện chức năng của nội mô (lớp tế bào bên trong mạch máu), ngăn cản sự hình thành các khối máu đông trong động mạch và giúp giảm huyết áp.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên hơn 2.400 nam giới Phần Lan ở độ tuổi 42 – 56. Họ được chia làm 4 nhóm, tùy theo nồng độ vitamin C trong máu. Kết quả cho thấy:

– Nhóm có hàm lượng vitamin C trong máu thấp nhất (dưới 28,4 micromol/lít) có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp đôi nhóm có hàm lượng vitamin C cao nhất (trên 64,9 micromol/lít).

– Nguy cơ đột quỵ còn tăng nhiều hơn ở những người bị cao huyết áp hoặc thừa cân.

Theo các nhà khoa học, có sự tương xứng ở mức vừa phải giữa lượng vitamin C được đưa vào cơ thể và hàm lượng vitamin trong máu. Ví dụ, những người thuộc nhóm có ít vitamin C trong máu nhất dùng lượng vitamin tương đương với khoảng 1/2 cốc nước cam mỗi ngày. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Đột quỵ số tháng 6 của Mỹ.

  1. Hóa chất tự nhiên giúp phục hồi não sau cơn đột quỵ

Nghiên cứu của Mỹ cho thấy, việc tiêm inosine (hóa chất tham giá vào cấu tạo của ADN) giúp chuột cải thiện đáng kể động tác lấy thức ăn và đặt chân lên bàn, vốn đã bị mất sau cơn đột quỵ. Phân tích não còn cho thấy, các tế bào thần kinh đã tạo được những liên kết mới trong vùng não bị cô lập.

Tiến sĩ Larry Benowitz, Đại học Harvard, và cộng sự đã gây đột quỵ cho chuột rồi tiêm inosine vào não một số con. Các nhà khoa học nhận thầy rằng, tổn thương não do đột quỵ khiến chuột rất khó đặt chân trước lên bàn. 19 ngày sau khi tiêm inosine, chức năng này gần như hồi phục hoàn toàn ở nhóm chuột được điều trị, và chỉ phục hồi 50% ở nhóm không được tiêm inosine. Ngoài ra, chuột ở nhóm được điều trị cũng lấy thức ăn giỏi hơn và bơi tốt hơn. Như vậy, một số chức năng bị mất sau đột quỵ đã được phục hồi đáng kể.

Theo các tác giả, vì inosine là một hợp chất tự nhiên của cơ thể nên tác dụng phụ do nó gây ra sẽ không nhiều. Nếu mang lại hiệu quả tương tự ở người, inosine sẽ giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân đột quỵ, thường bị giảm trầm trọng vì tai biến này.

Khoảng 75.000 người Mỹ bị đột quỵ mỗi năm. Khi đột quỵ xảy ra, một phần của não đột nhiên bị tổn thương và bị tiêu hủy. Người ta phân biệt hai loại đột quỵ:

– Đột quỵ do thiếu máu: Khối máu đông hình thành trong mạch máu sẽ chặn đứng nguồn máu tới não.

– Đột quỵ do xuất huyết: Một mạch máu của não bị tổn thương, vỡ ra và gây chảy máu.

  1. Dầu thực vật giúp phòng đột quỵ

Một nghiên cứu của Nhật Bản mới được công bố gần đây cho thấy, các loại acid béo trong dầu thực vật (như dầu ngô, dầu hướng dương và dầu đậu nành) có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là loại đột quỵ do cục máu đông. Tỷ lệ acid béo trong máu cứ tăng lên 5% thì nguy cơ đột quỵ giảm 28%.

Các nhà khoa học đã đưa ra kết luận trên sau khi xem xét mẫu máu của hơn 7.000 người trong độ tuổi từ 40 đến 85. Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, các acid béo không no trong dầu thực vật làm giảm hàm lượng cholesterol xấu trong máu và tỏ ra có ích cho tim.

  1. Mức tiêu thụ kali liên quan đến nguy cơ đột quỵ

Người lớn tuổi không tiêu thụ thức ăn giàu chất kali sẽ có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với những người khác. Đó là kết quả ban đầu của một cuộc nghiên cứu do các nhà khoa học Mỹ mới tiến hành.

Sau khi theo dõi hơn 5.600 phụ nữ và đàn ông từ 65 tuổi trở lên, các nhà khoa học nhận thấy, ở những người tiêu thụ ít kali nhất, nguy cơ đột quỵ trong vòng 4-8 năm sau đó sẽ cao hơn so với những người tiêu thụ nhiều kali hơn.

Kali là một khoáng chất có trong chuối, sốt cà chua và nước cam. Mức tiêu thụ kali cao được xác định là hơn 4g/ngày, mức thấp là ít hơn 2,4g/ngày (tương đương một tách sốt cà chua).

  1. Làm thế nào để phòng đột quỵ?

Đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vong và là nguyên nhân quan trọng gây tàn tật ở Mỹ. Mỗi năm có khoảng 600.000 người mắc mới và tái phát đột quỵ, trong đó có 160.000 người tử vong. Hiện nay việc tổ chức đơn vị chống đột qụy và điều trị cấp cứu ngày càng tốt đã giúp bệnh nhân sống sót nhiều hơn và sống lâu hơn, nhưng nếu mức độ tàn phế không giảm thì đó cũng là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Vậy làm thế nào để dự phòng đột quỵ?

Dự phòng khi chưa xẩy ra đột quỵ

Đột quỵ biến thiên theo thời gian. Buổi sáng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong ngày. Sự thay đổi của huyết áp tương đồng theo thời gian đột quỵ cùng với tình trạng tăng độ quánh máu vào buổi sáng nên dễ dẫn đến đột quỵ. Đột quỵ xảy ra theo mùa, nhiều vào cuối năm, đặc biệt là vào mùa đông.

Đột quỵ thường xảy ra do bệnh tăng huyết áp (chiếm tỷ lệ 80%), xơ vữa động mạch 18-25%, các bệnh khác (5%). Giữ huyết áp ở mức bình thường (dưới 140/90mmHg). Chế độ ăn giảm các chất mỡ bão hòa, nên ăn các loại thịt trắng, hạn chế thịt có màu đỏ, cai thuốc lá.

Dự phòng các đột quỵ

Cách tốt nhất để dự phòng các đột quỵ là chống các yếu tố nguy cơ sau:

Chống tăng huyết áp

Điều trị tăng huyết áp là giảm biến chứng tim mạch, thận và giảm tỷ lệ tử vong. Áp dụng các biện pháp giảm trọng lượng cơ thể (chống béo phì), ăn nhạt, tập thể dục, dùng thuốc hạ huyết áp đều đặn khi bị tăng huyết áp. Khi đột quỵ đã xảy ra, nguyên tắc chung điều trị huyết áp là không hạ nhanh, trừ phi tăng huyết áp ác tính (huyết áp tâm thu >200mmHg và hoặc huyết áp tâm trương > 110mmHg).

Cai thuốc lá triệt để

Hút thuốc lá là nguy cơ xơ vữa động mạch, nguy cơ bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nguy cơ đột quỵ cũng dứt hẳn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.

Chống tăng cholesterol máu

Huyết khối gây tắc mạch não cơ chế sinh bệnh xơ vữa động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rối loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Sự giảm cholesterol bằng các thuốc nhóm statin. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một các yếu tố nguy cơ độc lập của đột quỵ.

Chế độ ăn muối và kali hợp lý

Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muối vừa phải do mất muối qua mồ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quỵ do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g natri mỗi ngày (tương đương 6g muối ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.

Cai rượu

Người ta thấy việc sử dụng rượu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rượu gặp phải những biến chứng nặng là do lạm dụng rượu.

Nghiện rượu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. Sử dụng mức độ trung bình (12 – 24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “10g rượu tương đương với 330ml bia hoặc 100ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh”.

Tập thể dục

Tập thể dục làm giảm thấp các các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh để ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chẳng hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhất 30 phút/ lần/ ngày, 5 ngày/ tuần là hữu ích.

Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông số lipid, hạn chế tiến triển tổn thương xơ vữa động mạch và cải thiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm huyết áp tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làm giảm tỷ lệ đột quỵ.

Chống béo phì

Ở bệnh nhân béo bụng là nguy cơ lớn nhất của đột quỵ. Về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2, nếu > 27kg/m2 và tăng cân nặng sau 18 tuổi làm tăng các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.

Chọn thuốc tránh thai có estrogen

Dùng thuốc tránh thai bằng đường uống với lượng estrogen lớn hơn 50mg tăng nguy cơ đột quỵ, với liều thấp dưới 50mg cho thấy không gia tăng nguy cơ đột quỵ.

Chống bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucoza là các yếu tố nguy cơ của đột quỵ.

Nghiên cứu ở Framinham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân không đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị dái tháo đường có vòng tuần hoàn nghèo nàn.

Phát hiện và điều trị sớm bệnh tim

Các bệnh tim là các yếu tố nguy cơ đứng hàng thứ hai của đột quỵ sau xơ vữa động mạch bao gồm: Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt nhồi máu mới, nhồi máu cũ và bệnh cơ tim.

Các bệnh viêm mạch

Phối hợp với các hiện tượng tự miễn cần phải tìm nhất là các bệnh gây ra các bất thường miễn dịch như bệnh xoắn khuẩn (Leptospirose), bệnh Lyme, bệnh do Aspergillose, viêm màng não – mạch máu não do giang mai, hoặc do nhiễm Chlamydia pneumoniae, Helicobacter pylori.

Homocysteine (Hcy)

Tăng Hcy máu là các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch vành, não, và mạch máu ngoại vi. Các thiếu hụt dinh dưỡng về folat, vitamin B12 và vitamin B6 có thể đẩy mạnh tăng Hcy máu. Cung cấp folat 1 – 2mg/ngày là đủ để làm giảm Hcy máu.

Tăng Hcy máu toàn phần tương quan với nguy cơ nhồi máu cơ tim và nhồi máu não, đặc biệt những bệnh nhân ở tuổi trung niên.

Tóm lại, phòng bệnh đột quỵ giữ vai trò quan trọng trong việc hạ thấp tỷ lệ tử vong và tình trạng di chứng, cần phát hiện sớm, có biện pháp xử trí kịp thời các ca đột quỵ. Mặt khác phải chú ý đề phòng khả năng tái phát của những trường hợp đã mắc.

  1. Thanh niên có bị đột quỵ không?
lua-tuoi-bi-dot-quy
Đột quỵ có thể phát sinh ở bất kể lứa tuổi nào

Rất nhiều người cho rằng đột quỵ là bệnh của người già, rằng lớp người trẻ tuổi chắc không bị đột quỵ, đây là cách nghĩ sai lầm. Trên thực tế, đột quỵ có thể phát sinh ở bất kể lứa tuổi nào. Trong công tác lâm sàng của chúng tôi, thanh niên, thậm chí nhi đồng, cũng bị đột quỵ. Một là do cuộc sống của người dân ngày một nâng cao, nhiều thanh niên có thói quen ăn uống không hợp lý (thích ăn đồ nguội, ăn vội vàng…), sinh hoạt không điều độ (mệt mỏi kéo dài, công việc căng thẳng, hút thuốc uống rượu quá nhiều) hoặc nhân tố nguy hiểm của đột quỵ (béo phì, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, mỡ trong máu cao…). Đây là một số nhân tố khiến cho thanh niên bị đột quỵ, hoặc có thể trở thành những người có nguy cơ mắc bệnh hoặc là “đội quân hậu bị” của đột quỵ. Hai là, như đã trình bày ở phần trên, đột quỵ là căn bệnh có rất nhiều nguyên nhân, và cũng rất nhiều nguyên nhân hiếm gặp (như truyền nhiễm do khuẩn xoắn, bản thân bị viêm huyết quản có tính miễn dịch…), vì thế đột quỵ không phải là bệnh của người già, những nguyên nhân này cũng có thể tạo thành nguyên nhân chính để phát sinh đột quỵ ở lớp trẻ. Nếu mạch máu bẩm sinh đã khác thường (u động mạch hoặc dị dạng động – tĩnh mạch) càng tạo thành nguyên nhân chính của xuất huyết não ở lớp trẻ. Vì vậy, đột quỵ là bệnh có thể phát sinh ở bất cứ độ tuổi nào, nên phòng ngừa từ lúc còn trẻ.

  1. Huyết áp bình thường có bị đột quỵ không?

Ở phần nguyên nhân phát bệnh chúng tôi đã đề cập đến vấn đề này. Chúng tôi nhấn mạnh ràng, cao huyết áp chính là một trong những nhân tố nguy hiểm quan trọng gây ra đột quỵ, tuy nhiên, phát sinh đột quỵ hay không còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác. Vì vậy huyết áp không cao không hẳn là đã “an toàn”. Trong công tác hàng ngày của chúng tôi, có rất nhiều bệnh nhân khi phát bệnh, huyết áp không những không cao, mà bình thường hoặc thấp hơn bình thường. Mặt khác, bệnh nhân bị cao huyết áp nếu làm cho huyết áp giảm xuống một cách nhanh chóng cũng dễ xảy ra đột quỵ do thiếu máu. Bởi vì, trong máu của bệnh nhân huyết áp cao đã thích ứng với trạng thái truyền vào cao, khi giảm huyết áp thì máu trong não đột nhiên hạ thấp tình trạng chuyền vào thấp dễ gây ra chóng mặt, phản ứng chậm chạp, thậm chí dẫn đến đột quỵ do thiếu máu. Bệnh nhân cao huyết áp phải uống thuốc hợp lý theo sự hướng dẫn của bác sĩ, tránh hạ huyết áp quá thấp hoặc quá nhanh.

  1. Bệnh nhân có cần uống thuốc suốt đời không?

Cách nghĩ này là có tính đại diện. Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh mục đích điều trị thời kỳ hồi phục sức khỏe, ngoại trừ tiến hành xử lý đúng bệnh đã xảy ra trước đó, quan trọng hơn nữa cần phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của bệnh nhân, xem xét lại trạng thái sinh lý bệnh lý của bệnh nhân, phòng ngừa tái đột quỵ. Trên cơ sở này, đa số bệnh phải dùng thuốc suốt đời. Có nhiều bệnh nhân, sau khi ngưng thuốc thì độ tích tụ của tiểu cầu, đường huyết… lập tức tăng cao hơn mức bình thường, có người còn xuất hiện cơn thiếu máu tạm thời (TIA), thậm chí tái đột quỵ. Rất nhiều biến chứng chẳng hạn như lên cơn động kinh cần phải uống thuốc trong thời gian dài, thậm chí suốt đời.

  1. Đột quỵ có liên quan đến bị cảm gió không?

Trúng phong là tên gọi mà Đông y dùng để gọi đột quỵ (bại não cấp tính), suy theo chữ nghĩa thì từ này có quan hệ nhất định với từ “phong” (gió), vì vậy một số người nhà bệnh nhân quá lo lắng không cho bệnh nhân đột quỵ bị cảm gió, thậm chí không sử dụng máy điều hòa cho bệnh nhân, dù là trời nóng bức cũng để cho bệnh nhân ở nơi kín đáo không có gió. Điều này không đủ khoa học, nên giữ nhiệt độ thích hợp cho bệnh nhân, đồng thời tránh làm cho bệnh nhân nóng bức gây ra bực bội.

Thực ra, khái niệm trúng phong trong Đông y chỉ là bệnh nhân do thiếu âm tố, lo âu thái quá, thích ăn những thức ăn nhiều dầu mỡ… dẫn đến các triệu chứng như tim gan nóng đốt, tự sinh nội phong, khí ngược huyết giật, bị nghẹt đờm, biểu hiện miệng và mắt bị lệch một bên, bất tỉnh nhân sự… Do bệnh này xảy ra đột ngột, biến hóa nhanh chóng, giống như đặc tính thay đổi của cơn gió độc. Phong tức là gió độc, ngoại phong là 1 trong 6 loại tà khí, phong là một trong những căn bệnh lâu dài trong bách bệnh. Ngoại phong xâm nhập vào kinh lạc hoặc gan thận biến thành nội phong… đều có thể gây ra đột quỵ.

  1. Vấn đề thuốc bổ

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc bổ, nhiều công ty vì muốn đạt được mục đích kinh doanh của mình nên đã quảng cáo khuếch trương hiệu quả của thuốc làm cho người bệnh và người nhà tin tưởng tuyệt đối vào thuốc bổ. Đối với thuốc bổ vừa có lợi vừa có hại, ở đây chúng ta không có quyền bàn cãi vấn đề này. Nhưng cần nhắc nhở mọi người, thuốc bổ không phải là thuốc chữa bệnh, bản thân nó không thể thay thế tác dụng của thuốc chữa bệnh. Bệnh nhân nếu có bất kỳ biểu hiện khác thường nào, nên đến bệnh viện để được điều trị đúng khoa học. Chớ có tự tiện dùng thuốc, tránh làm cho bệnh tình càng xấu đi.

  1. Miệng méo xệch có phải là đột quỵ?

Ở phòng khám, nhiều bệnh nhân trẻ tuổi sau khi cảm gió hoặc cảm lạnh dẫn đến miệng méo xệch, mắt khó khép lại, thường cho rằng mình bị đột quỵ, vô cùng lo lắng.

Căn bệnh này cũng là bệnh thường thấy ở khoa thần kinh, chúng tôi gọi là liệt ở phần mặt có tính ngoại biên hoặc liệt dây thần kinh mặt. Cơ chế phát bệnh, cách điều trị và tiến triển bệnh tình của căn bệnh này hoàn toàn khác với đột quỵ. Tê liệt vùng mặt còn gọi là “viêm thần kinh mặt” nguyên nhân là do thần kinh mặt bị nhiễm độc hoặc do những nguyên nhân khác gây ra phù thũng, dẫn đến trở ngại chức năng thần kinh mặt. Thông thường liên quan đến toàn bộ nửa mặt, liên quan đến cơ mắt và cơ trán, vì vậy làm cho việc đóng khép mắt khó khăn. Đột quỵ thông thường dẫn đến liệt phần mặt tương ứng, chỉ liên lụy đến nửa bộ mặt phía dưới mà không ảnh hưởng đến chức năng nhắm mắt, mở mắt và ngẩng đầu.

  1. Những vấn đề cần lưu ý trong thời kỳ nguy hiểm của “đột quỵ”

Thời kỳ nguy hiểm của bệnh đột quỵ ở mỗi người khác nhau. Có người sớm vào giai đoạn ổn định, có người thì cần phải qua một thời gian khá dài mới tới giai đoạn ổn định. Đột quỵ là hội chứng lâm sàng có tính toàn thân, quá trình bệnh rất phức tạp, ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, có lúc tưởng chừng như đã thuyên giảm nhưng đột nhiên thay đổi đột ngột, đặc biệt là bệnh nhân xuất huyết dưới màng nhện. Chúng tôi đã gặp ca bệnh nhân, nam, 35 tuổi, vốn trong thời kỳ hồi phục, tình trạng đau đầu cũng đã thuyên giảm nhiều, người nhà và bệnh nhân rất vui mừng, cho rằng bệnh đã hết. Nhưng trong hai tuần nằm bệnh, do tranh cãi với vợ về những chuyện vặt, bệnh tình đột nhiên trầm trọng, tái xuất huyết và đột ngột tử vong. Những ca bệnh xuất huyết dưới màng nhện này rất nhiều. Vì vậy, bác sĩ chỉ có thể căn cứ vào tình trạng tổng hợp của bệnh nhân, phân tích những mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu của bệnh nhân, sau đó quyết định bệnh nhân đã qua thời kỳ nguy hiểm hay chưa.

Loại bệnh khó dự đoán nhất là xuất huyết áp dưới màng nhện, bởi vì nguyên nhân của loại bệnh này là u động mạch hoặc dị dạng động – tĩnh mạch, vì vậy thường có khả năng tái xuất huyết. Bệnh nhân thường do ho, sặc, bài tiết, tâm trạng dao động mà dẫn đến phá vỡ u động mạch, trong một thời gian ngắn đã xuất huyết lại, bệnh tình nghiêm trọng hơn, thường gây ra nguyên nhân tử vong cho bệnh nhân. Nhiều khi khiến cho người nhà khó chấp nhận, bệnh nhân đang trong giai đoạn hồi phục rất tốt, tại sao đột nhiên lại tử vong được cơ chứ? Vì vậy, chúng tôi quy định đối với những bệnh nhân xuất huyết dưới màng nhện tuyệt đối phải nằm viện 4 – 6 tuần, có thể sử dụng thuốc nhuận tràng để tránh bị táo bón, sử dụng thuốc an thần để tránh tâm trạng, người nhà cũng nên giúp bệnh nhân có tâm trạng thư thái, ổn định, tránh bị kích động.

  1. Uống thuốc Đông y có tác dụng phụ không?

Có người cho rằng: Thuốc Đông y không có tác dụng phụ, còn thuốc Tây thì có rất nhiều tác dụng phụ, vì vậy, họ cự tuyệt uống thuốc Tây, mà chủ trương chỉ uống thuốc Đông y, điều này là không đúng. Thuốc điều trị đột quỵ trong Đông y chủ yếu là “điều hòa khí huyết” hoặc “ổn thương thông khiếu” (làm lành vết thương), rất nhiều thuốc có ảnh hưởng đến tụ huyết của cơ thể, có thể gây ra tác dụng phụ như xuất huyết. Vì vậy, bất luận là thuốc Đông y hay thuốc Tây y đều có tác dụng phụ rất nhất định, người bệnh nên uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.

  1. Để đề phòng té ngã bệnh nhân đột quỵ phải ít hoạt động?

Ngược lại thì đúng hơn, bệnh nhân đột quỵ vì nhu cầu hồi phục chức năng cơ thể, nên cố gắng tiến hành tập luyện, đương nhiên đề phòng bệnh nhân té ngã cũng là việc nên coi trọng. Có một số bệnh nhân do đau khớp, không muốn vận động hoặc hoạt động khá ít, dẫn đến khớp xương bị co rút, khiến cho hoạt động càng ngày càng khó khăn, hình thành tuần hoàn ác tính, khả năng hoạt động và khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân ngày một kém đi. Mục đích của quyển sách này là tuyên truyền cho mọi người phương pháp tiến hành hoạt động hồi phục chức năng như thế nào, làm thế nào để nâng cao khả năng sinh hoạt hàng ngày và khả năng tự lo liệu, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

  1. Khí công và châm cứu có hiệu quả đối với đột quỵ không?

Trong quan niệm của nhiều người, khí công và châm cứu là phương pháp điều trị có hiệu quả đối với di chứng của đột quỵ. Vì vậy, sau khi bị đột quỵ, người nhà không tiếc tiền mời thầy khí công và thầy châm cứu đến nhà để điều trị, nhưng kết quả khiến cho người ta thất vọng. Quả thật về mặt điều trị đột quỵ thì y học dân tộc có phương pháp điều trị hết sức độc đáo, nhưng chỉ hỗ trợ cho việc điều trị, căn bản vẫn chưa có bước đột phá. Vì vậy, sau đột quỵ có thể thử điều trị bằng y học dân tộc, nhưng không nên coi thường những loại thuốc Tây y đang được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa tái đột quỵ, mặt khác y học dân tộc cũng không thể thay thế cho việc tập luyện hàng ngày để khôi phục chức năng.

  1. Gia đình có cần phải mua dụng cụ tập luyện đắt tiền cho bệnh nhân đột quỵ không?

Quan điểm này thường khiến cho nhiều người ngần ngại khi quyết định để bệnh nhân tiến hành tập luyện hồi phục chức năng. Hồi phục chức năng cơ thể cho bệnh nhân đột quỵ căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng người mà có cách tập luyện khác nhau, đặc biệt là chú trọng về tập luyện khả năng tự lo liệu sinh hoạt hàng ngày, không nhất thiết là dụng cụ luyện tập nhiều hay ít. Hoàn toàn có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản hàng ngày để luyện tập đạt được hiệu quả tốt.

  1. Bệnh nhân đột quỵ cần phải nằm viện đến khi khỏi bệnh hoàn toàn?

Đa số bệnh nhân và người nhà đều có suy nghĩ như trên, sau 3-4 tuần nằm viện, bệnh nhân vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, bác sĩ liền cho bệnh nhân xuất viện, người nhà và bệnh nhân thường không chấp nhận việc này, thậm chí có khi xảy ra hục hặc mâu thuẫn với bác sĩ, cho rằng bác sĩ không nhân đạo không có tâm.

Thật ra bác sĩ đã làm đúng với nguyên tắc điều trị. Nhưng do trình độ của các bác sĩ hiện nay căn bản là không thể “chữa dứt điểm” bệnh đột quỵ. Để bệnh nhân xuất viện, có nghĩa bệnh nhân đã qua thời kỳ nguy hiểm, bước vào giai đoạn hồi phục sức khỏe, cũng có nghĩa là bệnh tình đã ổn định, có thể chuyển sang viện điều trị phục hồi sức khỏe hoặc về nhà điều trị. Nằm viện không những lãng phí viện phí và thuốc men điều trị mà còn không có lợi ích gì cho bệnh nhân vì chưa có phương pháp điều trị có hiệu quả, mặt khác không có lợi đối với sức khỏe vì khi nằm viện sự truyền nhiễm đan xen giữa các bệnh nhân làm ảnh hưởng đến thời kỳ hồi phục sức khỏe của bệnh nhân; tiếng kêu cứu và tiếng la hét của các bệnh nhân khác làm cho bệnh nhân không được nghỉ ngơi thoải mái; chế độ nghỉ ngơi và làm việc của bệnh viện cũng không thích hợp cho người nhà khi sắp xếp công việc để chăm sóc… Vì vậy, bệnh nhân một khi đã bước vào giai đoạn hồi phục sức khoẻ, nên tiến hành luyện tập để hồi phục chức năng chứ không nhất thiết nằm lại bệnh viện.

  1. Châm cứu, xoa bóp có ý nghĩa trong việc điều trị đột quỵ không?

Nhiều người tin tưởng vào cách chữa bệnh tê liệt do đột quỵ bằng phương pháp y học cổ truyền như châm cứu, xoa bóp… người nhà bệnh nhân sau khi điều trị Tây y biết không có kết quả, đã không tiếc tiền của mời thầy châm cứu hoặc thầy xoa bóp về nhà điều trị, hi vọng có thể cải thiện được bệnh trạng của bệnh nhân, thậm chí hi vọng kỳ tích sẽ xuất hiện. Nhưng sự thật cho thấy, cách điều trị này chỉ khiến cho người ta thất vọng. Đối với vấn đề này nên có một nhận thức biện chứng. Châm cứu và xoa bóp đối với bệnh nhân đột quỵ trong thời kỳ hồi phục sức khỏe có một số hiệu quả nhất định như giúp cho bệnh nhân lưu thông huyết mạch ở phần cơ bị liệt, làm dịu bớt cơn đau ở chỗ bị liệt, giảm mức độ căng cơ, ngăn ngừa hình thành lở loét, cải thiện tình trạng hồi phục sức khỏe và tình trạng tâm lý của bệnh nhân… Nhưng châm cứu, xoa bóp không phải là “liệu pháp đặc hiệu”, cũng không có tác dụng điều trị di chứng đột quỵ. Những liệu pháp này chỉ là một trong những phương pháp hỗ trợ có hiệu quả để hồi phục sức khỏe, chúng tôi đề xướng sử dụng các phương pháp này kết hợp với việc tập luyện trong giai đoạn hồi phục chức năng. Vì vậy, có thể kết hợp điều trị song song giữa Trung y và Tây y.

Người nhà nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện y học dân tộc có chuyên môn để khám và điều trị, tránh đến những nơi mà nhân viên châm cứu và nhân viên xoa bóp không có chuyên môn, không có tư cách của thầy thuốc.

Nên duy trì điều trị khoa nội thần kinh bên Tây y, tốt nhất có sự kết nối giữa bác sĩ Đông y và bác sĩ khoa thần kinh Tây y, có thể căn cứ vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân để đưa ra phương án hồi phục sức khỏe thích hợp.

  1. Đột quỵ có tái phát không?

Có người cho rằng, đột quỵ giống như một chứng “bệnh truyền nhiễm”, đã bị một lần, cơ thể sẽ phát sinh ra một loại “kháng thể” và sẽ miễn dịch suốt đời, do suy nghĩ như vậy nên cự tuyệt tái khám và điều trị. Đây là cách nghĩ hết sức nguy hiểm.

Đột quỵ là căn bệnh do tác động chung của nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy hiểm gây ra hội chứng lâm sàng về sự thay đổi mạch máu não. Nói theo dân gian tức là, nguyên nhân bệnh và yếu tố nguy hiểm chúng tôi tạm gọi là “quả”, khi mà “nhân” không bị loại trừ, trong một điều kiện nào đó ắt sẽ phát sinh ra “quả”.

Trên lâm sàng, đã có một số bệnh nhân bị tái đột quỵ, cơ chế hình thành tái đột quỵ rất đa dạng, thời gian tái đột quỵ cũng không thể dự liệu, nhưng tái đột quỵ sẽ rất nghiêm trọng, thường gây đau đớn về thể xác và gánh nặng về tinh thần cho bệnh nhân, bệnh nhân có thể sẽ bị liệt hoàn toàn, mất hoàn toàn khả năng tự chăm sóc bản thân hoặc gây tử vong cho bệnh nhân. Vì vậy, sau khi bị đột quỵ, phòng ngừa tái đột quỵ là trách nhiệm của các bác sĩ khoa thần kinh, cũng là vấn đề quan trọng mà bệnh nhân và người nhà cần phải chú ý.

Nói một cách khác, y học hiện đại không có cách khống chế hoàn toàn sự tái đột quỵ, do nguyên nhân chính xác và các cơ chế phát bệnh của đột quỵ vẫn chưa nghiên cứu được. Đề phòng tái đột quỵ là một việc nên làm, đây là nguyên nhân mà chúng tôi yêu cầu bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục sức khỏe nên đến bệnh viện tái khám định kỳ, để bác sĩ theo dõi tình trạng huyết áp, độ dính của máu, độ tích tụ của tiểu cầu, đường trong máu, mỡ trong máu… căn cứ vào trạng thái sinh lý, bệnh lý của bệnh nhân, các bác sĩ sẽ điều trị thuốc, lập phương án điều trị theo từng giai đoạn, phòng ngừa phát sinh tái đột quỵ.

  1. Di chứng đột quỵ sẽ tự nhiên thuyên giảm, không cần phải tập luyện?

Một số bệnh nhân sau khi đột quỵ, những triệu chứng thời kỳ cấp tính dường như đã thuyên giảm, tay chân vốn không cử động được cũng có thể cử động, lời nói không rõ ràng cũng dần dần rõ ràng, có người cho rằng những di chứng đột quỵ sẽ tự nhiên hồi phục, không cần phải tập luyện, đây cũng là nhận thức sai lầm thường gặp trên lâm sàng.

Thật ra, đại não của chúng ta chính xác có chức năng tự phục hồi nhất định, sau khi bị tổn thương nghiêm trọng sẽ thuyên giảm và hồi phục, trên lâm sàng có rất nhiều bệnh nhân, sau khi phát bệnh một thời gian, các triệu chứng có diễn biến tốt. Nhưng, sự phục hồi này thường có giới hạn, có thể chỉ tiến triển ở giai đoạn ngắn rồi ngừng hoặc sẽ không tiến triển nữa.

Nhiều nghiên cứu về phục hồi sức khỏe của bệnh nhân đột quỵ đã chứng minh, sau khi đột quỵ, so sánh giữa bệnh nhân có tập luyện hồi phục sức khỏe chính quy với bệnh nhân tập luyện không chính quy và bệnh nhân không luyện tập, rõ ràng bệnh nhân có tập luyện chính quy tình trạng khá hơn hai loại bệnh nhân kia, bất luận về mặt hồi phục khả năng tự chăm sóc sinh hoạt hàng ngày và phòng ngừa tái đột quỵ đều có tiến triển khả quan, không có bệnh nhân “tự nhiên hồi phục”, trường hợp như vậy thường có diễn biến xấu về sau.

  1. Để hồi phục sức khoẻ bệnh nhân vận động càng nhiều càng tốt?

Có bệnh nhân sau khi đột quỵ đau khổ vì chức năng của tứ chi bị hạn chế, nên tích cực tập luyện, hi vọng nhanh thuyên giảm, vì vậy không nghĩ đến tình trạng của cơ thể và khả năng chịu đựng. Bình thường, người khỏe mạnh cũng khó kiên trì “tập luyện quá trọng lượng”. Hồi phục chức năng cơ thể có quá trình và giai đoạn nhất định, không thể tiến hành “luyện tập” một cách tùy tiện thế nào cũng được, nếu không sẽ gây tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể.

van-dong-nhieu-tot-cho-nguoi-benh-dot-quy
Vận động nhiều tốt cho người bệnh đột quỵ

Ngoài ra, người viết còn muốn nhắc nhở một điều, hiệu quả đạt được khi luyện tập sẽ bị mất đi trong điều kiện nào đó, ví dụ có một bệnh nhân đã luyện tập được một thời gian, phần cơ thể bị liệt đang phục hồi ở mức độ nhất định, đã có thể làm được một số hoạt động tự chăm sóc cho bản thân, nhưng do bị té ngã, lại xuất hiện tình trạng chức năng của cơ thể có trở ngại như trước. Trong tình trạng này, bệnh nhân không nên thất vọng, mất niềm tin, mà cần lạc quan hơn nữa, kiên quyết tiếp tục luyện tập.

  1. Luyện tập hồi phục chức năng là một phương pháp đặc hiệu?

Khi bác sĩ yêu cầu bệnh nhân nên tiến hành luyện tập hồi phục chức năng, thường có nhiều bệnh nhân hỏi bác sĩ, luyện tập hồi phục chức năng có thể hồi phục lại hình dáng và chức năng như trước không? Nhưng câu trả lời của bác sĩ thường làm cho bệnh nhân thất vọng, bởi vì hiện nay căn bản vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu chữa trị đột quỵ. Đối với di chứng đột quỵ thì càng không có lối thoát, tập luyện hồi phục chức năng là phương pháp duy nhất có hiệu quả nhất định hiện đã được chứng minh, nhưng bệnh nhân có thể hồi phục đến mức độ nào còn tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng cơ thể, tính chất, kích thích và vị trí đột quỵ của bệnh nhân. Vì vậy, hiệu quả khó mà nói trước được. Nhưng, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhất trí cho rằng, phương pháp hồi phục chức năng sẽ cải thiện được khả năng tự chăm sóc trong sinh hoạt hàng ngày, cải thiện tình trạng chức năng tứ chi của bệnh nhân. Vì vậy, người nhà của bệnh nhân nên tích cực để bệnh nhân tiến hành luyện tập.

  1. Bệnh nhân đột quỵ không thể làm việc nhà và đi làm?

Có một số bệnh nhân sau khi đột quỵ rất sợ tái phát, mặc dù di chứng không rõ ràng, cũng không muốn tiếp tục đi làm; thật ra, không nhất thiết phải như vậy. Những bệnh nhân không có di chứng đột quỵ, chỉ cần thường xuyên đến bệnh viện kiểm tra, tái khám định kỳ, để bác sĩ quan sát và khống chế cơ chế sinh lý, bệnh lý, đồng thời căn cứ vào đó để kê đơn thuốc, phòng ngừa tái phát, như thế hoàn toàn có thể yên tâm làm việc.

Một số bệnh nhân có di chứng đột quỵ, qua một thời gian luyện tập hồi phục cơ thể ở mức độ nhất định và luyện tập khả năng tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hàng ngày, nếu có khả năng tự chăm sóc, tùy thuộc vào tình trạng của cơ thể, cũng có khuyến khích tham gia một số công việc nhà và một số công việc khác. Điều này rất có lợi, thứ nhất có thể hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân, thứ hai là duy trì tâm lý khỏe mạnh và giảm gánh nặng cho người nhà bệnh nhân.

Nhưng, bệnh nhân đột quỵ khác với người khỏe mạnh, điều trước tiên là phải bảo vệ sức khỏe tốt và nghỉ ngơi đầy đủ mới có thể tiến hành làm việc. Vì vậy, bệnh nhân đột quỵ cần phải theo dõi sự chỉ dẫn của bác sĩ, chọn công việc thích hợp, tránh những công việc quá mệt mỏi và áp lực tinh thần cao. Bệnh nhân đột quỵ nên tránh lao động quá sức, như công việc khuân vác, gánh nặng… tránh những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao như làm ở sân bay, xe lửa, ngành công an… Ngoài ra, lái xe hơi cũng không thích hợp với bệnh nhân; bệnh nhân đột quỵ nên bắt đầu từ những công việc nhẹ nhàng không căng thẳng, không có áp lực.

  1. Bệnh nhân đột quỵ nên bỏ những hoạt động vui chơi giải trí?

Nhiều bệnh nhân và gia đình đều có quan niệm này. Họ cho rằng, bệnh nhân sau khi đột quỵ cần phải dưỡng bệnh nhiều, tránh tất cả những hoạt động giải trí. Vì vậy, hoạt động của bệnh nhân vô cùng đơn điệu, tinh thần của bệnh nhân ngày càng sa sút.

Chúng tôi cho rằng, bệnh nhân đột quỵ nên có những hoạt động giải trí nhất định. Mặc dù đang bị liệt nửa người cũng cần có hoạt động giải trí, như nghe nhạc hoặc nghe radio. Mặc dù là đột quỵ nhẹ, cũng cần hạn chế những hoạt động thể lực có tính tiêu hao như leo núi, khiêu vũ… Những hoạt động giải trí của bệnh nhân đột quỵ mang tính chất “tu thân dưỡng tính” “bồi dưỡng tình cảm về đạo đức”, nên lựa chọn một số hoạt động giải trí ít tiêu hao năng lượng, ít kích thích như nghe nhạc, xem sách, xem tivi, đi bách bộ trong công viên gần nhà, câu cá, luyện viết thư pháp…

Về mặt lựa chọn âm nhạc nên chọn những ca khúc trong sáng, nhẹ nhàng, không nên chọn những ca khúc kích động, cũng nên tránh những ca khúc ảo não, vì sẽ làm cho tâm trạng trầm uất của bệnh nhân càng trầm trọng hơn.

Về mặt lựa chọn sách, có thể xem một số sách khoa học nói về bệnh đột quỵ, học một số bài tập dưỡng sinh, hoặc xem sách nói về với sự đấu tranh chống bệnh tật. Có thể khuyến khích người bệnh viết nhật ký, viết tâm sự và sinh hoạt hàng ngày vào nhật ký.

Tóm lại, hoạt động giải trí và sở thích của bệnh nhân, nên căn cứ vào tình trạng sức khỏe. Vừa bảo đảm sức khỏe, vừa tăng thêm niềm vui trong cuộc sống, khắc phục tâm trạng trầm uất của bệnh nhân.

  1. Bệnh nhân đột quỵ không cần phải có quan hệ giao tiếp?

Có người cho rằng, đa số bệnh nhân đột quỵ phần lớn thời gian đều ở nhà, ngoài việc tiếp xúc với người nhà, không cần thiết có quan hệ giao tiếp.

Bệnh nhân đột quỵ, thông thường là người già, vốn đã không có tiếng nói chung với con cái, sau khi đột quỵ, thường có tâm lý “sợ gây thêm phiền phức cho con” vì vậy càng phát sinh trở ngại giao tiếp với con cái. Nếu con cái đi làm, bệnh nhân càng cô độc hơn, đây là tâm trạng không có lợi cho bệnh nhân ở thời kỳ hồi phục sức khỏe.

Bệnh nhân đột quỵ thật ra có thể kết nhiều bạn. Thời đại thông tin phát triển khiến cho bệnh nhân không cần bước ra khỏi nhà cũng có thể tìm hiểu giao lưu tình cảm. Trước tiên là kết bạn với những người “mắc bệnh cùng cảnh ngộ”, có thể trao đổi thông tin điều trị và kinh nghiệm trong quá trình tập luyện hồi phục chức năng, động viên và đốc thúc nhau luyện tập. Sau đó là tìm đến bác sĩ thân tín của mình để nhận được sự giúp đỡ và động viên từ bác sĩ. Hiện nay thịnh hành phong trào “người làm công tác xã hội”, bệnh nhân có thể tham gia vào phong trào này, đây cũng là đối tượng tốt để bệnh nhân giao lưu và dốc bầu tâm sự.

Vì vậy, nên khích lệ bệnh nhân đột quỵ kết giao bạn bè, điều này rất có lợi cho tâm trạng của bệnh nhân, tăng thêm niềm tin để hồi phục sức khỏe.

  1. Bệnh nhân đột quỵ cần chấm dứt sinh hoạt tình dục?

Sau khi đột quỵ đa số bệnh nhân thường chấm dứt sinh hoạt tình dục. Họ lo ngại sẽ phát sinh tái đột quỵ.

Bởi vì khi sinh hoạt tình dục, huyết áp tăng cao, tim đập nhanh, thần kinh giao cảm hưng phấn, thể lực tiêu hao rất nhiều, đối với bệnh nhân đột quỵ thường có khả năng dẫn đến tái đột quỵ. Vì vậy, bệnh nhân đột quỵ nên thận trọng khi sinh hoạt tình dục.

Đối với những bệnh nhân trẻ tuổi, thể lực hồi phục khá nhanh, không nhất thiết phải chấm dứt sinh hoạt tình dục. Nhưng cần phải khống chế tốt những yếu tố nguy hiểm gây ra đột quỵ, cẩn thận, không nên lặp lại nhiều lần, động tác không nên quá bạo liệt, cần chú ý nghỉ ngơi sau khi sinh hoạt.

  1. Bệnh nhân đột quỵ không thể đi máy bay?

Điều lệ hàng không của chúng ta, không quy định chính xác bệnh nhân đột quỵ không thể ngồi máy bay.

Bệnh nhân thời kỳ cấp tính, đặc biệt là bệnh nhân xuất huyết não, cần phải hạn chế di chuyển, vì vậy không nên đi máy bay.

Còn bệnh nhân thời kỳ hồi phục sức khỏe, nếu kiểm soát được huyết áp tốt, nhịp tim bình thường, có khả năng tự chăm sóc bản thân, nếu cần thiết, cũng có thể đi máy bay. Nhưng tốt nhất nên nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ, hơn nữa không tự đi một mình, phải có người nhà hoặc y tá đi cùng, nên chuẩn bị một số vật dụng và thuốc men cấp cứu thông dụng. Có thể liên hệ với tiếp viên hàng không để họ sắp xếp chỗ ngồi tốt và có chế độ chăm sóc đặc biệt. Nhưng không nên đi những chuyến bay dài ngày hoặc hạ cánh nhiều lần.

  1. Bệnh nhân đột quỵ nên mặc quần áo gì?

Nên nghĩ đến người bị đột quỵ đang bị liệt nửa người, nghĩ đến phương tiện luyện tập hồi phục chức năng để lựa chọn quần áo thích hợp cho bệnh nhân, vì vậy, chọn quần áo cho bệnh nhân mặc cũng là một vấn đề. Trước tiên, phải chọn áo chất liệu nhẹ, thoáng khí, mềm mại, dễ mặc dễ cởi. Ngoài ra, bệnh nhân đột quỵ do hoạt động không thuận tiện vì vậy áo mặc chủ yếu là phải rộng rãi thoải mái. Không cần quá phức tạp, tránh những quần áo có kết nút sắc nhọn hoặc đính hoa văn; quần nên chọn loại quần dây thun, tránh dùng dây thắt lưng, bệnh nhân liệt nửa người rất khó khăn để thắt, cởi dây lưng. Quần của bệnh nhân nên chọn loại rộng, dễ mặc dễ cởi, nên mang giày vải. Tránh mặc quần áo chật, không những cởi khó khăn mà còn đè ép phần cơ thể bị liệt, ảnh hưởng không tốt cho bệnh nhân.

Ngoại trừ đảm bảo giữ ấm, bệnh nhân không nên mặc quần áo quá nhiều; có thể mặc quần áo như người bình thường là được.

  1. Liệu pháp ăn uống có thể thay thế thuốc không?

Hiện nay, có một số người nhà của bệnh nhân cho rằng, tác dụng phụ của thuốc Tây y rất lớn, thuốc Đông y cũng không đáng tin cậy, chỉ có thể khống chế bệnh qua con đường ăn uống, ý đồ của họ là dùng thực phẩm để thay thế tác dụng của thuốc. Nhưng hiện nay, rất nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm vì muốn đạt được mục đích tiêu thụ sản phẩm đã khoa trương một cách phiến diện về giá trị sản phẩm, quảng cáo rằng sản phẩm có thể thay thế cho thuốc; chẳng hạn quảng cáo thực phẩm có tác dụng: “hạ huyết áp, giảm sự tích tụ của tiểu cầu, phòng ngừa sự hình thành nghẽn mạch não”. Nhiều người đã quá tin tưởng dùng loại “thực phẩm có nhiều công năng” này để thay thế loại thực phẩm điều trị chính quy, đây là một cách nghĩ hết sức nguy hiểm.

Các loại thực phẩm này có hiệu quả hay không vẫn chưa kiểm chứng được. Nhưng muốn đạt được hiệu quả điều trị, nhất định phải thông qua thí nghiệm nghiêm túc trên động vật và thí nghiệm lâm sàng mới xác định được. Cho dù là có hiệu quả thật, thì thức ăn vẫn là thức ăn, không có tác dụng thay thế cho thuốc.

Vì vậy, cần phải duy trì điều trị bệnh bằng thuốc và tái khám theo định kỳ, không thể tin vào “liệu pháp ăn uống”.

  1. Cách cấp cứu bệnh đột quỵ

Đột quỵ còn gọi là tai biến mạch máu não hay xuất huyết não.

Theo điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tại 2/3 số quốc gia được khảo sát, tai biến này là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Nếu phát hiện và điều trị sớm bệnh nhân sẽ được cứu sống và tránh những di chứng nặng nề.

Bài dưới đây giới thiệu một phương pháp rất đơn giản và hữu hiệu có thể cứu sống người bị đột quỵ:

“CÂY KIM CÓ THỂ CỨU SỐNG ĐƯỢC BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ”

Hãy giữ một cây kim (nhớ là thật sạch) ở trong nhà để làm điều này. Đây là một cách vô cùng kỳ diệu và độc đáo để cứu người bị đột quỵ. Hãy đọc thật kỹ biết đâu có ngày bạn sẽ có dịp sử dụng kiến thức này để cứu người.

Khi có người bị đột quỵ, hãy hết sức bình tĩnh. Cho dù bệnh nhân đang ở đâu, cũng không được di chuyển. Vì nếu bị di chuyển, các mạch máu não sẽ vỡ ra. Hãy giúp bệnh nhân ngồi tại chỗ và giữ không cho bệnh nhân bị ngã, rồi bắt đầu chích cho máu chảy ra. Nếu bạn có sẵn một cây kim tiêm ở nhà thì tốt nhất, nếu không có kim tiêm, bạn có thể dùng kim may hoặc một cây kim thẳng. (Nhớ là phải rửa tay thật sạch trước khi thực hiện các việc sau đây.)

  1. Hơ kim trên lửa để khử trùng rồi dùng nó để chích mười đầu ngón tay.
  2. Không có các huyệt cụ thể, chỉ cần chích cách các móng tay 1mm.
  3. Chích đến khi nào máu chảy ra.
  4. Nếu máu không chảy ra được, hãy dùng ngón tay của bạn để nặn ra.
  5. Khi tất cả mười đầu ngón tay đều đã có máu chảy ra, hãy chờ vài phút, nạn nhân sẽ hồi tỉnh.
  6. Nếu nạn nhân bị méo miệng, hãy kéo hai tai nạn nhân cho đến khi cả hai tai đều đỏ lên.
  7. Sau đó, chích vào dái tai cho đến khi mỗi dái tai có chảy ra hai giọt máu. Sau đó vài phút nạn nhân sẽ hồi tỉnh.

Chờ cho đến khi nạn nhân trở lại trạng thái bình thường không có một triệu chứng bất thường nào nữa thì mới chở nạn nhân vào viện vì nếu nạn nhân bị vội vàng chở đi ngay đến bệnh viện bằng xe cấp cứu, xe chạy bị xóc sẽ làm cho các mạch máu não của bệnh nhân bị vỡ ra.

Nhập bình luận của bạn

Bài viết được quan tâm

Bài viết cùng chuyên mục